CSGTD tháng 10 năm 2021 tỉnh Bắc Ninh

28/10/2021 14:51 Số lượt xem: 53

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 tuy giảm 0,63% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 0,43 so cùng kỳ năm trước và tăng 0,91% so với tháng 12 năm trước; sau 10 tháng, CPI bình quân tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước.

 

 Biểu Chỉ số Giá tiêu dùng tháng 10 năm 2021

I. TỔNG QUAN GIÁ CẢ HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ TIÊU DÙNG THÁNG 10

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 tuy giảm 0,63% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 0,43 so cùng kỳ năm trước và tăng 0,91% so với tháng 12 năm trước; sau 10 tháng, CPI bình quân tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 4 nhóm có chỉ số giá giảm:Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-1,87%); Hàng may mặc, mũ nón, giầy dép (-0,06%); thiết bị đồ dùng gia đình (-0,06%); Giáo dục (-4,5%). Có 2 nhóm hàng có chỉ số tăng: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD (+0,19%); Giao thông (+2,13%); Còn lại 5 nhóm có chỉ số ổn định, biến động không đáng kể.

Một số nguyên nhân tác động làm tăng chỉ số giá trong tháng 10, do:

(1) Giá gas đồng loạt tăng mạnh, mức tăng bình quân từ 25.000-30.000đ/bình 12kg do ảnh hưởng và chi phối bởi giá gas thế giới;

(2) Trong tháng, giá xăng được điều chỉnh tăng 2 lần vào ngày 11/10 và ngày 26/10 tính chung giá xăng tăng 6,73%, dầu diezen tăng 8,72%.

Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có biến động giảm và tác động khá lớn đến chỉ số chung, như sau:

(1) Giá thịt lợn các loại tiếp tục sụt giảm do tổng đàn được phục hồi nhanh sau dịch, nhưng nhu cầu tiêu dùng chưa tăng mạnh do các nhà hàng vẫn chưa hoạt động hết công suất, các đám hiếu hỷ cũng bị hạn chế số người tham dự; nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tuyển được lao động do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, nên suất ăn công nghiệp tăng thấp, đã gây mất cân đối cung cầu tạm thời.

(2) Giá thóc, gạo giảm nhiều do năng suất vụ mùa năm nay đạt cao, thóc gạo mới đã được lưu thông trên thị trường với chất lượng tốt hơn.

II. DIỄN BIẾN XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH TRONG THÁNG 10

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống: Mức giảm chung của nhóm là 1,87%, chủ yếu do tác động của nhóm thực phẩm, cụ thể như sau:

a) Lương thực: Chỉ số chung của nhóm giảm0,79% so với tháng trước, chủ yếu do giá gạo các loại giảm 1,52% bởi đang trong thời kỳ thu hoạch của vụ mùa, năng suất ước đạt 63,53 tạ/ha, tăng gần 1 tạ so với cùng vụ năm trước.

b) Thực phẩm: Chỉ số giá thực phẩm giảm 2,43%, chủ yếu là do sản phẩm thịt gia súc (-9,28%), thịt chế biến (-4,41%) và mỡ động vật (-9,16%). Trong đó, thịt lợn giảm tới 11,66% nguyên nhân như đã phân tích ở trên. Bên cạnh đó sản phẩm thịt gia cầm chỉ tăng 0,51%, nên không bù đắp được mức giảm của nhóm gia súc.

2. May mặc, mũ nón và giầy dép

Mặc dù, là tháng giao mùa thu sang đông nhưng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm loại này không cao do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, dân cư được khuyến cáo hạn chế tiếp xúc đông người khi đi mua sắm. Mặc dù, hàng may mặc khác như khăn quàng, găng tay... tăng 0,29%, nhưng tác động không đáng kể, nên tính chung nhóm này giảm 0,06%.

3. Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD

Nhóm này tăng 0,19%, chủ yếu do giá gas trong tháng tăng mạnh bởi ảnh hưởng giá gas thế giới và chi phối ở thị trường trong nước, nên giá gas tăng tới 12,36% và giá dầu hoả điều chỉnh tăng 2 lần vào ngày 11/10 và 26/10 (+9,08%)

4. Thiết bị và đồ dùng gia đình

Nhóm này giảm 0,1%, chủ yếu do giá thiết bị đồ dùng trong nhà giảm 0,39% bởi nhu cầu tiêu dùng nhóm đồ điện lạnh, điều hoà đã sụt giảm do thời tiết đã chuyển sang mùa đông.

5. Giao thông

Trong tháng giá xăng điều chỉnh tăng 2 lần vào ngày 11và 26/10 đã tác động đến chỉ số chung của nhóm giao thông (+2,13%), trong đó nhiên liệu (+6,5%).

6. Giáo dục

Trong tháng thực hiện Nghị quyết số 09/2021/NQ-HĐND ngày 29 /9/2021của Hội đồng Nhân dân tỉnh về việc quy định mức thu học phí; hỗ trợ đối với trẻ em, học sinh có hoàn cảnh khó khăn chịu tác động của đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong năm học 2021-2022. Theo đó, mức học phí đối với cơ sở giáo dục Mầm non và phổ thông, giáo dục thường xuyên (hệ THPT) công lập áp dụng như năm học 2020-2021. Trong đó, không thu học phí 04 tháng học kỳ I đối với trẻ em, học sinh trong các cơ sở giáo dục Mầm non và phổ thông, giáo dục thường xuyên (hệ THPT) công lập. Tính chung, nhóm này có chỉ số giảm lớn nhất trong tháng (-4,5%).

7. Các nhóm hàng hoá khác: Các nhóm hàng, dịch vụ còn lại tương đối ổn định, biến động không đáng kể và cũng chiếm tỷ trọng nhỏ nên tác động không lớn đến chỉ số giá tiêu dùng chung trên địa bàn tỉnh.

III. GIÁ VÀNG VÀ ĐÔ-LA MỸ

Trong tháng, chỉ số giá vàng và đôla Mỹ đều đồng loạt giảm nhẹ so với tháng trước và biến động theo xu hướng của thế giới.

1. Chỉ số giá vàng

Biến động chung theo giá vàng trong nước, tính chung bình quân giá vàng bán ra trong tháng ở mức 5.071.900đ/chỉ, giảm 0,19% so với tháng trước, giảm 4,63% so với cùng tháng năm trước và giảm 5,53% so với tháng 12/2020. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng, giá vàng vẫn tăng 8,19% so với cùng kỳ năm trước và mặt bằng chung giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới.

2. Chỉ số giá đô la Mỹ

Giá đôla Mỹ trong tháng được bán ra bình quân 2.285.967đ/100 USD, giảm nhẹ (-0,09%) so với tháng trước, giảm 1,8% so với cùng tháng năm trước và giảm 1,6% so với tháng 12/2020. Sau 10 tháng, giá đôla Mỹ vẫn giảm 1,12% so với cùng kỳ năm trước./.

 

 

Phòng Thống kê Kinh tế
Nguồn: ctk.bacninh.gov.vn

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 31313
Đã truy cập : 47681155