CSGTD tháng 8 năm 2021 tỉnh Bắc Ninh

28/08/2021 14:51 Số lượt xem: 148

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2021 giảm 0,41% so với tháng trước, tăng 0,75 so cùng kỳ năm trước và tăng 1,94% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2021 tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có các xu hướng khác nhau:

 Biểu Chỉ số Giá tiêu dùng tháng 8 năm 2021

I. TỔNG QUAN GIÁ CẢ HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ TIÊU DÙNG THÁNG 8

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2021 giảm 0,41% so với tháng trước, tăng 0,75 so cùng kỳ năm trước và tăng 1,94% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2021 tăng 0,85% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có các xu hướng khác nhau:

- Bốn nhóm chỉ số giá biến động giảm, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-1,78%); Đồ uống và thuốc lá (-0,11%); Giao thông (-0,16%); Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,02%); Văn hóa, giải trí và du lịch (-0,06%).

- Ba nhóm hàng có chỉ số tăng nhẹ, dao động dưới 0,5%: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD (+0,35%); thiết bị và dồ dùng gia đình (+0,22%).

- Còn lại, 04 nhóm hàng có giá ổn định, ít biến động là: May mặc, mũ nón và giầy dép; Thuốc và dịc vụ y tế; văn hóa, giải trí và du lịch; Bưu chính viễn thông; Giáo dục.

Chỉ số CPI tháng 8 năm 2021 giảm chủ yếu do các nhóm lương thực, thực phẩm (các nhóm có tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu tiêu dùng) có chỉ số giá giảm do nguồn cung hàng nhóm này dồi dào; mức giảm tương ứng (-1,25% và -2,04%).

II. DIỄN BIẾN XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH TRONG THÁNG 8 SO VỚI THÁNG TRƯỚC

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-1,78%)

a) Lương thực (-1,25%)

+ Chỉ số giá lương thực tháng 8 giảm 0,25%, chủ yếu do giá gạo các loại giảm 2,25% trong đó: gạo tẻ thường -2,39%; gạo tẻ ngon -2,07%; gạo nếp -0,28%. Bênh cạnh đó nhóm bột mì và ngũ cốc khác cũng lại tăng 1,96%; lương thực chế biến tăng 0,02%. Nguyên nhân một mặt do tính thời vụ, mặt khác do thị trường cung cấp hạn chế, điều kiện vận chuyển đi lại giữa các vùng khó khăn hơn.

b) Thực phẩm (-2,04%)                   

Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm nhẹ do biến động của một số nhóm, mặt hàng sau: Nhóm thịt gia súc giảm mạnh (-5,9%). Sau một thời gian dài giữ giá ở mức cao đến nay giá thịt gia súc các loại giảm do nguồn cung dồi dào, tương ứng: thịt lợn -7,34%; nội tạng -4,32%; thịt chế biến -3,38%; mỡ ăn -11,74%. Giá thịt gia cầm -2,44%. Rau tươi, khô và chế biến giảm 0,86%; Quả tươi giảm 2,41%.

Bên cạnh đó, một số nhóm, mặt hàng tiếp tục tăng giá như trứng các loại tăng cao +10,36% do đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhiều của người dân, mặt khác lượng thu gom tăng mạnh do cung cấp cho những vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid 19 lần thứ tư. Đồ gia vị tăng 0,45%; Sữa và phô mai +0,28%.

2. Đồ uống và thuốc lá (-0,11%)

Chỉ số giá nhóm giảm 0,11% do giá nhóm rượu các loại 0,8%.

3. Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+0,35%)

Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 1,9% do nhu cầu, sản lượng tiêu thụ điện tăng trong tháng. Cộng thêm giá ga tăng 3,44% do ảnh hưởng chung của giá ga trong nước, đây là tháng thứ ba liên tiếp giá ga điều chỉnh tăng.

4. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,22%)

Chỉ số giá nhóm tăng 0,22% do giá các mặt hàng thiết bị dùng trong gia đình +0,17% với thiết bị khác +0,53%; đồ điện +0,33%.

5. Giao thông (-0,16%)

Chỉ số nhóm giảm 0,31% nguyên nhân chính do giá phương tiện đi lại giảm 1,82%. Nguyên nhân do dịch Covid-19 bùng phát trở lại, nhiều đại lý, hãng xe đã đưa ra nhiều gói ưu đãi, chương trình khuyến mãi giảm giá để kích thích sức mua,  kích cầu tiêu dùng. Mặc dù, trong tháng (theo kỳ tính giá), giá xăng được điều chỉnh giảm hai lần, một lần vào ngày 27/7 và lần tiếp theo giảm giá dầu vào ngày 11/8. Tính chung trong tháng, nhóm nhiên liệu vẫn tăng 1,06% so với tháng trước.

6. Nhóm hàng văn hóa, giải trí và du lịch (-0,06%)

Chỉ số nhóm giảm 0,06% tác động chính do giá nhóm thiết bị văn hóa (-0,15%); thiết bị giải trí (-0,03%); dịch vụ thể thao (-0,25%); hoa và cây cảnh (-0,19%).

7. Các nhóm hàng hoá khác

Các nhóm hàng, dịch vụ còn lại ổn định, ít biến động.

III. GIÁ VÀNG VÀ ĐÔ-LA MỸ

1. Chỉ số giá vàng (+9,15%)

Giá vàng trên thế giới biến động tăng, đã tác động đến thị trường trong nước, thị trường trong tỉnh cũng chịu ảnh hưởng chung, nên trong tháng giá vàng trên địa bàn tỉnh (+0,75%), tương ứng tăng 39.000đ/chỉ. Bình quân giá vàng bán ra trong tháng ở mức 5.133.102đ/chỉ.

2. Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,45%)

Biến động trái chiều với giá vàng, chỉ số giá đô-la Mỹ trong tháng biến động giảm 0,45%. Bình quân trong tháng, đồng đô-la được bán ra ở mức 2.301.323 đ/100USD./.

Phòng Thống kê Kinh tế
Nguồn: ctk.bacninh.gov.vn

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 33421
Đã truy cập : 47685183