KTXH 6 tháng đầu năm 2019

02/07/2019 08:20 Số lượt xem: 73

Báo cáo Về tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2019

Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Căng thẳng gần đây giữa các nền kinh tế lớn khiến thương mại và đầu tư thế giới giảm, niềm tin kinh doanh toàn cầu giảm sút, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định kinh tế quốc tế phải đối mặt với thời kỳ “bất trắc cao” khi 70% nền kinh tế thế giới, trong đó hầu hết các nền kinh tế phát triển rơi vào tăng trưởng chậm lại[1].

 Biểu KTXH quý 2 và 6 tháng đầu năm 2019

Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Căng thẳng gần đây giữa các nền kinh tế lớn khiến thương mại và đầu tư thế giới giảm, niềm tin kinh doanh toàn cầu giảm sút, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định kinh tế quốc tế phải đối mặt với thời kỳ “bất trắc cao” khi 70% nền kinh tế thế giới, trong đó hầu hết các nền kinh tế phát triển rơi vào tăng trưởng chậm lại[1]. Hoạt động kinh tế tại các quốc gia phát triển, đặc biệt là khu vực đồng Euro cũng như một số thị trường mới nổi yếu hơn so với dự kiến, các tổ chức quốc tế đều đưa ra dự báo thiếu lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019[2]. Các điểm nóng địa - chính trị có dấu hiệu phức tạp và tăng nhiệt. Mỹ tăng cường trừng phạt Iran, giá dầu và đồng Đô la Mỹ diễn biến phức tạp cũng là thách thức đối với kinh tế thế giới và ảnh hưởng xấu tới kinh tế Việt Nam. Trong nước, nền kinh tế cũng đối mặt không ít khó khăn, thách thức với thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng; ngành chăn nuôi gặp khó khăn với dịch tả lợn châu Phi ngày càng lây lan trên diện rộng; tăng trưởng chậm lại của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.

Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, kịp thời các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, nhờ đó nền kinh tế nước ta 6 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực.

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II năm 2019 ước tính tăng 6,71% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,14% và khu vực dịch vụ tăng 6,85%. Tăng trưởng quý II/2019 thấp hơn tăng trưởng quý II/2018 chỉ 0,02 điểm phần trăm nhưng cao hơn tăng trưởng quý II các năm 2011-2017[3]. Trên góc độ sử dụng, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 7,54%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,38%.

GDP 6 tháng đầu năm 2019 tăng 6,76%, tuy thấp hơn mức tăng của 6 tháng đầu năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng của 6 tháng các năm 2011-2017[4], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu được Chính phủ ban hành để thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019; sự nỗ lực của các ngành, các địa phương trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,39%, đóng góp 6% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,93%, đóng góp 51,8%; khu vực dịch vụ tăng 6,69%, đóng góp 42,2%.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,55% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,2%; khu vực dịch vụ chiếm 42,04%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,21% (Cơ cấu tương ứng cùng kỳ năm 2018 là: 14,13%; 33,83%; 41,8%; 10,24%).

Trên góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2019, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,05% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 7,12%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,06%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 7,98%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung ổn định. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Ngành thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất 9 năm qua, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác tăng khá. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp còn gặp khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng, dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng với tổng số lợn tiêu hủy chiếm tới 10% tổng đàn nên giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm chỉ tăng 1,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3,07% của 6 tháng năm 2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,15% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Điểm sáng của khu vực này là ngành thủy sản tăng trưởng khá ở mức 6,45% do nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng cao và là mức tăng trưởng cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 9 năm trở lại đây[5], đóng góp 0,21 điểm phần trăm.

a) Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.123,9 nghìn ha, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.117,1 nghìn ha, bằng 99,1%; các địa phương phía Nam đạt 2.006,8 nghìn ha, bằng 101,6%. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 65,7 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước, sản lượng ước tính đạt 20,5 triệu tấn, giảm 84,5 nghìn tấn.

Tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.881,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.502,7 nghìn ha, bằng 98,6%. Đến nay, đã có 193 nghìn ha lúa hè thu sớm tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thu hoạch, bằng 108,8% cùng kỳ năm 2018.

Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 558,7 nghìn ha ngô, bằng 100,1% cùng kỳ năm trước; 79,6 nghìn ha khoai lang, bằng 98,8%; 23,8 nghìn ha đậu tương, bằng 97,5%; 137,8 nghìn ha lạc, bằng 96%; 706,6 nghìn ha rau, đậu, bằng 102,7%.

Tính đến ngày 25/6/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 4.389 xã, 458 huyện của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[6]. Đàn lợn của cả nước tháng Sáu giảm 10,3% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 3,1%; đàn bò tăng 2,6%; đàn gia cầm tăng 7,5%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm đạt 1.801,2 nghìn tấn, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 796,8 nghìn tấn, giảm 12,4%); sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước tính đạt 51,2 nghìn tấn, tăng 3% (quý II đạt 24,8 nghìn tấn, tăng 3,8%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 192,5 nghìn tấn, tăng 3,8% (quý II đạt 93,2 nghìn tấn, tăng 5,2%); sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 660,9 nghìn tấn, tăng 8,6% (quý II đạt 322,7 nghìn tấn, tăng 11,3%). Đặc biệt trong quý II, khi tình hình dịch bệnh ở lợn diễn biến phức tạp, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng gia cầm tăng mạnh do người dân đã chuyển sang sử dụng thay thế thịt lợn, sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đạt gần 7 tỷ quả, tăng 11,4% (quý II đạt 3,4 tỷ quả, tăng 12,3%), sản lượng sữa bò 6 tháng đạt 508,4 nghìn tấn, tăng 8,2% (quý II đạt 256,2 nghìn tấn, tăng 9%).

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung phát triển ổn định, tập trung chủ yếu vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và khai thác gỗ từ diện tích rừng đến kỳ khai thác.

Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng ước tính đạt 110 nghìn ha, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 34,4 triệu cây, giảm 3,2% do nguồn kinh phí trồng rừng năm nay thấp và một số diện tích rừng đã khai thác chuyển đổi sang trồng cây lâu năm. Khai thác gỗ và lâm sản trong 6 tháng đầu năm tại các địa phương tăng trưởng khá, giá thu mua gỗ ổn định do nhu cầu tiêu thụ làm nguyên liệu sản phẩm gỗ tăng. Sản lượng gỗ khai thác đạt 7.030 nghìn m3, tăng 4,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 685,4 ha, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 402 ha, tăng 81,2%; diện tích rừng bị chặt, phá là 283,4 ha, tăng 1,2%.

c) Thủy sản

Sản xuất thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 phát triển khá do nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng cao, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 3.780,5 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2019 ước tính đạt 2.311,5 nghìn tấn, tăng 6,4%), trong đó cá đạt 2.835 nghìn tấn, tăng 5,6%; tôm đạt 397,8 nghìn tấn, tăng 7,7%; thủy sản khác đạt 547,7 nghìn tấn, tăng 5,8%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đạt 1.921,2 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước (quý II ước tính đạt 1.272,7 nghìn tấn, tăng 7,4%), trong đó cá đạt 1.393,6 nghìn tấn, tăng 5,9%; tôm đạt 320,3 nghìn tấn, tăng 9,8%; thủy sản khác đạt 207,3 nghìn tấn, tăng 7%. Từ tháng Năm đến nay giá cá tra nguyên liệu có xu hướng giảm nhưng sản lượng cá tra quý II vẫn tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, ước tính đạt 391,7 nghìn tấn, tăng 7,2%. Tính chung 6 tháng, sản lượng cá tra ước tính đạt 643,8 nghìn tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Cũng từ trung tuần tháng Năm đến nay giá tôm có xu hướng giảm nhưng sản lượng tôm vẫn tăng khá do giá tôm đầu năm cao nên người nuôi mạnh dạn thả nuôi, đồng thời mô hình nuôi tôm siêu thâm canh kiểm soát dịch bệnh tốt hơn và cho năng suất cao hơn 4-5 lần so với nuôi tôm thâm canh trong ao đất. Sản lượng tôm sú quý II đạt 76 nghìn tấn, tăng 8,7%; sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 131,1 nghìn tấn, tăng 11,1%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019 sản lượng tôm sú ước tính đạt 119,4 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2018; sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 177 nghìn tấn, tăng 10,7%.

Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.859,3 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước (quý II ước tính đạt 1.038,8 nghìn tấn, tăng 5,1%), trong đó cá đạt 1.441,4 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 77,5 nghìn tấn, giảm 0,3%.

3. Sản xuất công nghiệp và xây dựng

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 duy trì tăng trưởng khá ở mức 9,13% (quý I tăng 9%; quý II tăng 9,24%), đóng góp 3,06 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành xây dựng tăng 7,85%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm đạt 11,18%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn so với mức tăng 6 tháng đầu năm của các năm 2012-2017[7]; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,63%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,79%; ngành khai khoáng tăng 1,78% sau 3 năm giảm liên tục[8] (do khai thác dầu thô có mức giảm thấp hơn cùng kỳ năm trước và khai thác than, quặng kim loại đều tăng cao).

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 tăng 11,9%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2019 tăng 16,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 11,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2019 khá cao với 74,9%[9] (cùng kỳ năm trước là 63,4%).

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]

Trong 6 tháng đầu năm nay, cả nước có gần 67 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 860,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 32,5% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,8 tỷ đồng, tăng 27,7%. Nếu tính cả 1.310,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2019 là 2.170,5 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 21,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 31,4% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng năm nay lên gần 88,6 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đầu năm nay là 649 nghìn người, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 6 tháng đầu năm  nay là 21,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 21,8 nghìn, trong đó có 11 nghìn doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu từ năm 2018; 7,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 18,1%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2019 cho thấy: Có 45,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay tốt hơn quý trước; 16,5% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[11]. Dự kiến quý III/2019 có 52% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,4% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

5. Hoạt động dịch vụ

Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức tăng trưởng 6,69%, tuy thấp hơn mức tăng 6,89% của 6 tháng đầu năm 2017 và năm 2018 nhưng cao hơn các năm 2012-2016[12]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,86 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,9%, đóng góp 0,37 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,48%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,43%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,89%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm.

Hoạt động thương mại dịch vụ trong 6 tháng đầu năm nay tiếp tục có xu hướng tăng khá, lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Thị trường tiêu thụ được mở rộng, đa dạng hóa các hình thức khuyến mại làm sôi động thị trường trong những tháng đầu năm 2019. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước, tăng 11,5%[13], đạt 2.391,1 nghìn tỷ đồng, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,7% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,6%) thể hiện cầu tiêu dùng trong dân tăng, trong đó quý II/2019 ước tính đạt 1.206,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% so với quý trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đạt 1.823,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,3% tổng mức và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 286,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12% tổng mức và tăng 9,8%; doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 21,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 13,3%; doanh thu dịch vụ khác 6 tháng ước tính đạt 258,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,8% tổng mức và tăng 6,3%.

Hoạt động vận tải trong 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung ổn định, 4 trong 5 ngành đường có mức tăng trưởng khá[14], đặc biệt với việc ra đời hãng hàng không mới, ngành hàng không đáp ứng khá tốt nhu cầu đi lại ngày càng tăng cao của người dân, tạo sự cạnh tranh có lợi cho khách hàng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, vận tải hành khách đạt 2.495,7 triệu lượt khách, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước và 113,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5% (quý II năm nay đạt 1.258,6 triệu lượt khách, tăng 10,5% và 57,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,8%), trong đó vận tải hành khách đường bộ và đường hàng không có mức tăng cao nhất. Vận tải hành khách bằng đường bộ 6 tháng đạt 2.359,3 triệu lượt khách, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và 79 tỷ lượt khách.km, tăng 10,3%; đường hàng không đạt 26,7 triệu lượt khách, tăng 8,3% và 30,6 tỷ lượt khách.km, tăng 8,8%. Vận tải hàng hóa đạt 823,1 triệu tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và 156,7 tỷ tấn.km, tăng 7,1% (quý II ước tính đạt 410,8 triệu tấn, tăng 8,5% và 78,5 tỷ tấn.km, tăng 7,7%).

Doanh thu viễn thông 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 184,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7,13% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,79%. Tính đến cuối tháng 6/2019, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt gần 138 triệu thuê bao, tăng 11,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 133,9 triệu thuê bao, tăng 11,8%; thuê bao internet băng rộng cố định đạt gần 13,7 triệu thuê bao, tăng 11,3%.

Việt Nam tiếp tục là điểm đến thu hút khách du lịch quốc tế, lượng khách liên tục đạt mức trên 1 triệu lượt người mỗi tháng kể từ đầu năm 2019. Tính chung 6 tháng, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 8,5 triệu lượt người, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là khách đến bằng đường bộ với 24,9%, đạt 1.683,5 nghìn lượt người, tiếp đến là đường hàng không tăng 4,5%, đạt 6.658,3 nghìn lượt người. Tuy nhiên, lượng khách đang có xu hướng giảm dần, tháng Sáu có lượng khách quốc tế thấp nhất kể từ đầu năm. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng Sáu chỉ tăng 0,2%, chủ yếu do khách đến từ châu Á chiếm phần lớn lượng khách đến nước ta giảm 0,4%; từ châu Úc giảm 6%; trong khi khách đến từ châu Âu tăng 2,3%; từ châu Mỹ tăng 7,4% và từ châu Phi tăng 6,9%, đồng thời tốc độ tăng lượng khách trong 6 tháng đầu năm nay thấp hơn nhiều so với mức tăng giai đoạn 2016-2018[15].

6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 18/6/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 6,05% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,03%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 6,09% (cùng kỳ năm 2018 tăng 7,76%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 6,22% (cùng kỳ năm 2018 tăng 6,1%).

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý II/2019 tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm 2018, ước tính tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 18%, phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 21%, bảo hiểm phi nhân thọ tăng 10%.

7. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2019 đạt mức tăng khá 10,3% so với cùng kỳ năm trước, ước tính đạt 822,9 nghìn tỷ đồng  và bằng 33,1% GDP (quý II/2019 ước tính đạt 462,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2%). Trong đó, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư đạt 359,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,6% tổng vốn và có tốc độ tăng vốn cao nhất là 16,4% so với cùng kỳ năm trước, đây là kết quả của những chính sách ưu đãi, hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh; tiếp đến là vốn khu vực Nhà nước đạt 255 nghìn tỷ đồng, chiếm 31% và tăng 3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 208,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,4% và tăng 9,7%. Đáng lưu ý là trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa cải thiện nhiều, có mức tăng thấp nhất trong các năm giai đoạn 2016-2019[16].

Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2019 đạt kỷ lục về số dự án đăng ký cấp mới trong 6 tháng đầu năm và số vốn thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây[17], thu hút 1.723 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7.411,8 triệu USD. Bên cạnh đó, có 628 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 2.935,4 triệu USD, giảm 33,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 10.347,2 triệu USD, giảm 36,3% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 6 tháng còn có 4.020 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 8,12 tỷ USD, tăng 98,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 625 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 5,48 tỷ USD và 3.395 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,64 tỷ USD.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 6 tháng năm nay có 71 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 103,9 triệu USD; 19 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 96,1 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 6 tháng năm 2019 đạt 200 triệu USD.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Trong 6 tháng đầu năm 2019, thu ngân sách nhà nước duy trì tiến độ, chi ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời các yêu cầu đầu tư phát triển, chi trả nợ, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và hoạt động của bộ máy nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2019 ước tính đạt 660,6 nghìn tỷ đồng, bằng 46,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 524,8 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7%; thu từ dầu thô 26,1 nghìn tỷ đồng, bằng 58,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 109 nghìn tỷ đồng, bằng 57,6%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2019 ước tính đạt 612,5 nghìn tỷ đồng, bằng 37,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 441,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,1%; chi đầu tư phát triển 112,1 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1%; chi trả nợ lãi 55,9 nghìn tỷ đồng, bằng 44,7%.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 245,48 tỷ USD, mức cao nhất của 6 tháng từ trước đến nay. Đáng chú ý là xuất khẩu rau quả có tín hiệu tốt khi lần đầu tiên 6 tháng đầu năm đạt mức trên 2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng ước tính nhập siêu ở mức thấp với 34 triệu USD (bằng 0,03% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,72 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 15,68 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 6/2019 ước tính đạt 21,60 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước. Quý II/2019, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 63,86 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 8,5% so với quý I năm nay. Có 11 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong quý II, chiếm tỷ trọng 73,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 122,72 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 36,82 tỷ USD, tăng 10,8%, chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu; có 22 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 6/2019 ước tính đạt 21,2 tỷ USD, giảm 8,6% so với tháng trước. Quý II/2019, kim ngạch nhập khẩu đạt 65,31 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 13,7% so với quý I năm nay. Có 15 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,3% tổng trị giá nhập khẩu.

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 122,76 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 52,54 tỷ USD, tăng 14,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 70,22 tỷ USD, tăng 7,8%; có 26 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 84,7% tổng kim ngạch nhập khẩu.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong 6 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018 (quý II đạt 3,8 tỷ USD, tăng 6,4%), trong đó dịch vụ du lịch đạt 5,6 tỷ USD (chiếm 69,9% tổng kim ngạch), tăng 7,8%; dịch vụ vận tải đạt 1,5 tỷ USD (chiếm 18,5%), tăng 2,2%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 9,2 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,5 tỷ USD (chiếm 48,5% tổng kim ngạch), tăng 7,1%; dịch vụ du lịch đạt 2,8 tỷ USD (chiếm 30,7%), tăng 0,7%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2019 là 1,3 tỷ USD, bằng 15,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

10. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát của Chính phủ, sự chủ động điều hành giá xăng dầu, giá gas, giá điện, giá sách giáo khoa và giá dịch vụ y tế vào các thời điểm phù hợp, nguồn cung gạo dồi dào… là những yếu tố góp phần làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2019 giảm 0,09% so với tháng trước, tính chung quý II/2019, CPI tăng 0,74% so với quý trước và tăng 2,65% so với cùng kỳ năm 2018, bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 2,64% so với cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân 6 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây[18]. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 1,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Căng thẳng chính trị ở khu vực Trung Đông và kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ sẽ cắt giảm lãi suất làm cho giá vàng thế giới tăng cao nhất trong 6 năm trở lại đây. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/6/2019 tăng 5,1% so với tháng 5/2019. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2019 tăng 1,98% so với tháng trước; tăng 4,29% so với tháng 12/2018 và tăng 1,74% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2019 tăng 0,3% so với tháng trước; tăng 0,29% so với tháng 12/2018 và tăng 2,52% so với cùng kỳ năm 2018.

c) Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất nhập khẩu

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2019 giảm 1,36% so với quý trước và tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; tương tự, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,34% và tăng 2,28%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,39% và tăng 3,3%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,29% so với cùng kỳ năm 2018, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,86%, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,37%.

Quý II/2019, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá giảm 0,36% so với quý trước và tăng 2,11% so với cùng kỳ năm trước; tương tự, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,31% và tăng 0,78%; tỷ giá thương mại hàng hóa[19] quý II/2019 giảm 0,66% so với quý trước và tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,95%; tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 1,79% so với cùng kỳ năm 2018%.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Tình hình lao động, việc làm cả nước trong 6 tháng đầu năm 2019 có nhiều tín hiệu khả quan. So với cùng kỳ năm trước, số người có việc làm tăng lên, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, giảm mạnh tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm dần, thu nhập của người lao động làm công hưởng lương có xu hướng tăng.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2019 là 55,4 triệu người, tăng 334 nghìn người so với cùng kỳ năm trước (quý II là 55,5 triệu người, tăng 335,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước); lực lượng lao động trong độ tuổi là 48,9 triệu người, tăng 450,4 nghìn người. Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý II/2019 ước tính là 54,4 triệu người; tính chung 6 tháng là 54,3 triệu người, bao gồm 19,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35,3% tổng số (giảm 3,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 15,7 triệu người, chiếm 28,9% (tăng 2,3 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,8% (tăng 0,8 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước 6 tháng năm 2019 là 1,99% (quý I là 2,00%, quý II ước tính là 1,98%), trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,51%[20].

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm nay là 1,29% (quý I là 1,21%; quý II ước tính là 1,38%), trong đó khu vực thành thị là 0,77%; khu vực nông thôn là 1,57%[21].

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2019 nhìn chung được cải thiện, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua đã có những tác động tích cực, góp phần nâng cao đời sống, đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Hệ thống cơ sở vật chất văn hóa, trường học được đầu tư xây dựng mới, cải tạo đạt chuẩn, các chương trình hỗ trợ giống cây trồng cho sản xuất nông nghiệp, chính sách cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, cận nghèo… đã góp phần giúp người nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Tính đến cuối tháng 6/2019, cả nước có 4.402 xã (đạt 49,4%) và 76 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Sáu, cả nước có 1,7 nghìn hộ thiếu đói, giảm 44,5% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 6,9 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 44,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, cả nước có 65 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 30,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 261,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 30%.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 6 tháng đầu năm 2019 là hơn 4 nghìn tỷ đồng, bao gồm 2,2 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1,2 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và gần 0,7 nghìn tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 19 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

3. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2018-2019, cả nước có 16,5 triệu học sinh phổ thông, tăng 4% so với năm học trước, bao gồm: 8,5 triệu học sinh tiểu học, tăng 6,2%; 5,4 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 1,5% và 2,6 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 2%.

Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019 có gần 900 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, được tổ chức theo hướng siết chặt kỷ cương, đặc biệt phát hiện xử lý gian lận thi cử và tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho học sinh tham dự kỳ thi.

Trong 6 tháng đầu năm nay, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh gần 1,1 triệu người, đạt 47,8% so với kế hoạch năm, trong đó tuyển sinh trình độ cao đẳng và trung cấp 112 nghìn người, đạt 20%.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Tính chung 6 tháng, cả nước có gần 18,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 70,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (3 trường hợp tử vong); 255 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (10 trường hợp tử vong); 11 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong); 27,4 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 4,7 nghìn trường hợp mắc sởi dương tính và 36 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 866 người bị ngộ độc, trong đó 5 trường hợp tử vong.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật 6 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước. Các chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, văn nghệ quần chúng, trò chơi dân gian được tổ chức rộng khắp từ trung ương đến địa phương với nội dung phong phú, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương với nhiều hoạt động phong phú như tổ chức các trò chơi dân gian, các môn thể thao truyền thống, triển khai cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới”, ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, phong trào toàn dân tập bơi, phòng chống đuối nước năm 2019.

Về thể thao thành tích cao, tính chung 6 tháng đầu năm 2019, đoàn thể thao Việt Nam giành 91 huy chương vàng, 69 huy chương bạc và 95 huy chương đồng trên các đấu trường quốc tế.

6. Tai nạn giao thông

Tính chung 6 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8.204 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.418 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.786 vụ va chạm giao thông, làm 3.759 người chết, 2.463 người bị thương và 3.858 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 8,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 13,1%); số người chết giảm 8,4%; số người bị thương giảm 0,1% và số người bị thương nhẹ giảm 15,4%. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, gồm 24 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 21 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 14 người bị thương và 21 người bị thương nhẹ.

7. Thiệt hại do thiên tai và phòng chống cháy nổ

Thiên tai 6 tháng đầu năm đã làm 29 người chết và mất tích, 39 người bị thương; 649 ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi, 19,7 nghìn ngôi nhà bị ngập và hư hỏng; gần 9,4 nghìn ha lúa và 8,3 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 464 tỷ đồng.

Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.911 vụ cháy, nổ, làm 63 người chết và 98 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 677 tỷ đồng./.

 

 


[1] Hội nghị mùa xuân của IMF và WB ngày 13/4/2019

[2] Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ dự báo mức tăng trưởng toàn cầu năm 2019 xuống 3,3%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo 3,5% trước đó và đây là lần thứ hai trong năm IMF giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng hạ mức dự báo thấp hơn 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 3,2% cho tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019. Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 đạt 2,6%, giảm 0,3 điểm phần trăm so với mức 2,9% mà tổ chức này dự báo hồi tháng Một.

[3] Tăng trưởng GDP quý II của một số năm: Năm 2011 tăng 5,93%; năm 2012 tăng 5,08%; năm 2013 tăng 5,0%; năm 2014 tăng 5,34%; năm 2015 tăng 6,47%; năm 2016 tăng 5,78%; năm 2017 tăng 6,36%; năm 2018 tăng 6,73%; năm 2019 tăng 6,71%.

[4] Tăng trưởng GDP 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 5,92%; năm 2012 tăng 4,93%; năm 2013 tăng 4,90%; năm 2014 tăng 5,22%; năm 2015 tăng 6,32%; năm 2016 tăng 5,65%; năm 2017 tăng 5,83%; năm 2018 tăng 7,05%; năm 2019 tăng 6,76%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 3,40%; năm 2012 tăng 4,85%; năm 2013 tăng 2,34%; năm 2014 tăng 5,89%; năm 2015 tăng 3,30%; năm 2016 tăng 1,25%; năm 2017 tăng 5,08%; năm 2018 tăng 6,29%; năm 2019 tăng 6,45%.

[6] Các địa phương chưa xảy ra dịch tả lợn châu Phi gồm: Ninh Thuận, Tây Ninh và Bến Tre.

[7] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 8,96%; năm 2013 tăng 5,61%; năm 2014 tăng 6,61%; năm 2015 tăng 10,0%; năm 2016 tăng 10,50%; năm 2017 tăng 10,52%; năm 2018 tăng 12,87%; năm 2019 tăng 11,18%.

[8] Tốc độ tăng/giảm giá trị tăng thêm ngành khai khoáng 6 tháng đầu năm các năm 2016-2019 lần lượt là: giảm 2,25%; giảm 7,8%; giảm 1,32%; tăng 1,78%.

[9] Tỷ lệ tồn kho ở mức an toàn là khoảng 65%.

[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[11] Chỉ số tương ứng của quý I/2019: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 25,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 40,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.              

[12] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 6 tháng của các năm 2012-2019 lần lượt là: Năm 2012 tăng 6,11%; năm 2013 tăng 6,13%; năm 2014 tăng 5,82%; năm 2015 tăng 5,86%; năm 2016 tăng 6,47%; năm 2017 tăng 6,89%; năm 2018 tăng 6,89%; năm 2019 tăng 6,69%.

[13] Thấp hơn mức tăng của 6 tháng năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 6 tháng của các năm giai đoạn 2015-2017. Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng các năm 2015-2019 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,6%; 10%; 10,3%; 11,9%; 11,5%.

[14] Vận tải đường sắt tiếp tục xu hướng giảm cả về vận tải hành khách và hàng hóa do hạn chế về năng lực chạy tàu, tốc độ kỹ thuật không cao, kết nối với các phương thức vận tải khác còn nhiều bất cập.

[15] Tốc độ tăng của khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng các năm 2016-2019: năm 2016 tăng 22,9%; năm 2017 tăng 30,2%; năm 2018 tăng 27,2%; năm 2019 tăng 7,5%.

[16] Tốc độ tăng vốn đầu tư từ nguồn NSNN 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước: Năm 2016 là 11,7%; năm 2017 là 6,1%; năm 2018 là 9,5%; năm 2019 là 3,7%.

[17] Số dự án cấp mới 6 tháng các năm 2015-2019 lần lượt là: 757 dự án; 1.145 dự án; 1.183 dự án; 1.366 dự án, 1.723 dự án. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện các năm 2015-2019 lần lượt là: 6,3 tỷ USD; 7,3 tỷ USD; 7,7 tỷ USD; 8,4 tỷ USD; 9,1 tỷ USD.

[18] CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2017, 2018, 2019 lần lượt tăng so với cùng kỳ năm trước 4,15%; 3,29% và 2,64%.

[19] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[20] Tỷ lệ thất nghiệp chung 6 tháng đầu năm 2018 là 2,00%, trong đó khu vực thành thị là 2,96%; khu vực nông thôn là 1,55%.

[21] Tỷ lệ thiếu việc làm của 6 tháng đầu năm 2018 là 1,47%, trong đó khu vực thành thị là 0,64%; khu vực nông thôn là 1,89%.

 

Nguồn: Tổng Cục Thống kê

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 8186

Đã truy cập : 45355288