CSGTD tháng 9 và quý 3 năm 2019

01/10/2019 02:00 Số lượt xem: 112

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2019 tăng 0,32% so với tháng trước; tăng 1,53% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân chín tháng đầu năm 2019 tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 4 nhóm hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,19%;

 Biểu CSGTD tháng 9 và quý 3 năm 2019

I. TỔNG QUAN GIÁ CẢ HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ TIÊU DÙNG THÁNG 9

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2019 tăng 0,32% so với tháng trước; tăng 1,53% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,75% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân chín tháng đầu năm 2019 tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 4 nhóm hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,19%; nhà ở chất đốt và VLXD tăng 0,03%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,19%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05%. Hai nhóm có chỉ số giảm: May mặc, mũ nóng giầy giép giảm 0,25%; giao thông giảm 0,97%. Còn lại, các nhóm hàng hóa khác ổn định, chỉ số giá không biến động.

Một số nguyên nhân tác động đến CPI tháng 9  năm 2019:

  1. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tiếp tục tăng cao nhất là giá thịt lợn, bình quân giá thịt lợn tăng 4,32% so với tháng trước
  2. Điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào ngày 16/9 giá xăng giảm 477-486 đ/lít, giá dầu diezen tăng bình quân 498 đ/lít, tác động đến chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,58% ;
  3. Từ 01/9 giá gas trong nước điều chỉnh giảm bình quân 10.000đ/bình 12kg, giảm 4,94% so với tháng trước

II. XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH TRONG THÁNG 9

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+1,19%)

a) Chỉ số giá lương thực giảm 0,45% so với tháng trước, do ảnh hưởng của yếu tố thời vụ, nguồn cung dồi dào; trong đó, giá gạo giảm 2,06%, trong đó gạo tẻ thường giảm 2,31%; gạo tẻ ngon giảm 1,71%; gạo nếp giảm 1,08%.

b) Chỉ số giá thực phẩm tăng 1,49%, trong đó thịt gia súc tiếp tục tăng 4,19% do nguồn cung hạn chế bởi sau dịch kéo dài, tỷ lệ trống chuồng cao, đàn gia súc xuất chuồng khôi phục chậm. Sản phẩm thủy sản tươi sống tăng 1,79%; thủy sản chế biến tăng 1,34%; các loại đậu hạt tăng 2,69%; rau tươi, khô và chế biến tăng 5,06%; quả tươi, chế biến tăng 1,74%. Biến động trái chiều, giá thịt gia cầm giảm 3,51%...

c) Ăn uống ngoài gia đình: uống ngoài gia đình tăng 2,53%

2. May mặc, mũ nón, giày dép (-0,25%).

Chỉ số giá nhóm giảm 0,25% tác động chính bởi giá quần áo may sẵn giảm 0,36%; chủ yếu giảm giá ở quần áo mùa hè.

3. Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+0,03%)

Nhóm này biến động chủ yếu do:

Vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính giảm 0,12% nguyên nhân chính do giá sắt, thép xây dựng các loại giảm.

Giá ga đồng loạt giảm từ đầu tháng, giảm 4,94%; ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh giảm giá xăng dầu vào ngày 16/9, kéo theo giá dầu hỏa giảm 2,2%.

Bên cạnh đó: một số nhóm hàng có biến động tăng như: lượng điện tiêu thụ tiếp tục tăng kéo theo giá điện sinh hoạt tăng 2,51%.

4. Giao thông (-0,97%)

Điều chỉnh giảm giá xăng, dầu tăng vào ngày 16/9, giá xăng, dầu giảm bình quân 47-486đ/lít, giá dầu diezen tăng bình quân 498 đ/lít tác động đến chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 2,58% làm cho chỉ số giá nhóm giao thông giảm 0,97%.

5. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,05%)

Chỉ số nhóm này tăng chủ yếu ở nhóm đồ dùng cá nhân tăng 0,21% do giá đồ trang sức tăng 4,35%.

III. GIÁ VÀNG VÀ ĐÔ-LA MỸ

1. Chỉ số giá vàng (+3,39%)

  So với tháng trước ảnh hưởng chung của giá vàng trong nước và thế giới, giá vàng tăng  3,39%. Bình quân giá vàng bán ra trong tháng ở mức 4.206.000đ/chỉ (+138.000 đồng).

2. Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,04%)

Trong tháng giá đô la giảm nhẹ, giảm 0,04% mức chỉ xoay quanh so với tháng trước. Bình quân trong tháng, đồng đô-la được bán ra ở mức 23.264đ/USD.

IV. TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CPI 9 THÁNG ĐẦU NĂM

CPI bình quân 9 tháng đầu năm 2019 tăng 2,76% so với năm 2018; sau chín tháng CPI tốc độ trượt giá trên thị trường Bắc Ninh chỉ ở mức dưới 1% (thấp hơn nhiều so với số liệu này của năm 2018-với mức +3,59%). Bình quân 1 tháng chỉ tăng 0,08% so với cuối năm 2018.

CPI bình quân 9 tháng so với cùng thời kỳ năm trước, trong 11 nhóm hàng hoá và dịch vụ chính phần lớn các nhóm hàng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,42%; Đồ uống và thuốc lá tăng 7,35%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 3,26%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 5,25%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,45%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,06%; Giao thông giảm 3,79%; Bưu chính viễn thông tăng 0,12%; Giáo dục tăng 4,93%; Văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,32%; Hàng hoá khác tăng 10,31%.

CPI bình quân 1 tháng và CPI so với cùng kỳ qua các năm

Đơn vị tính:%

 

 Năm

2015

Năm

2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

CPI bình quân 1 tháng

+0,04

    +0,35

-0,08

+0,39

+0,08

CPI  9 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước

+0,98

     +2.46

+2,42

+2,97

+2,76

Khi CPI giữ ở mức thấp và ổn định, chính sách tiền tệ sẽ được nới lỏng; khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển; tạo cơ hội để các đơn vị kinh doanh tiếp cận nguồn vốn vay, mở rộng sản xuất, giảm giá thành, kích thích nhu cầu tiêu dùng; thêm vào nữa đây là điều kiện thuận lợi để điều chỉnh giá của một số mặt hàng do Nhà nước quản lý theo hướng tính đầy đủ các chi phí theo giá thị trường.

Như vậy, công tác quản lý giá, điều hành bình ổn giá tiếp tục phát huy hiệu quả sẽ góp phần giữ cho giá cả thị trường không xảy ra biến động bất thường, không gây những đột biến lớn trong 3 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng năm 2019 sẽ đạt mục tiêu đề ra của Quốc hội.

1. Một số nguyên nhân gây tăng CPI trong 9 tháng đầu năm 2019

(1) Phục vụ Tết Nguyên đán nhịp độ sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và sức mua trên thị trường trong dịp Tết, lễ hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng cao, thị trường hàng hoá và dịch vụ khá sôi động, đa dạng về mẫu mã chủng loại, chất lượng.

Nhóm lương thực, thực phẩm giữ giá ở mức cao do giá thóc, gạo chi phối. Mặc dù sản lượng thu hoạch các vụ liên tục đạt cao nhưng thị trường xuất khẩu gạo có chiều hướng thuận lợi hơn, được mở rộng và cơ bản đã chiếm lĩnh được một số thị trường trên thế giới, giá xuất ở mức cao.

(2) Tính chung trong 9 tháng, giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng 2/11 lần điều chỉnh.

(3) Thực hiện Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2019, từ 01/7/2019 mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được tăng lên 1.490.00đ/tháng đối với cán bộ, công chức, tăng thêm gần 7,2% trợ cấp BHXH đã tác động tăng giá nhóm dịch vụ khác và là tác động chính làm cho nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng.

(4) Áp dụng mức giá dịch vụ khám bệnh BHYT theo thông tư 13/2019/TT-BYT, theo đó điều chỉnh tăng mức giá dịch vụ khám bệnh BHYT đối với các hạng bệnh viện.

2. Các nguyên nhân tác động làm giảm, kiềm chế tốc độ tăng giá

 Sự điều hành kiên quyết, linh hoạt của Chính phủ, các ngành, các cấp trong thực hiện các giải pháp quản lý giá, triệt để tiết kiệm và đẩy mạnh phát triển kinh tế.

Giá thực phẩm tươi sống giảm mạnh, nhất là sản phẩm thịt gia súc tươi sống do ảnh hưởng của dịch tả Châu Phi trên đàn lợn tác động giảm đồng loạt các sản phẩm thịt gia súc, tuy nhiên giá bán vẫn ở mức cao

Nhà nước tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu để điều chỉnh giá. Tác động của giá xăng dầu trên thế giới, trong nước Chính phú điều chỉnh giảm 7/11 lần điều chỉnh và giữ giá ổn định trong thời gian nhất định.Đây là các mặt hàng cơ bản cấu thành chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh (nhất là vận tải) nên khi giữ giá và giảm giá đã tác động tích cực đến giá thành sản phẩm, giá bán nhiều sản phẩm, hàng hoá. Cộng thêm giá xe máy, ô tô giảm nhiều trong quý hai đã tác động giảm nhóm giao thông.

Diễn biến thời tiết căn bản thuận lợi cho cây lúa phát triển tốt, thóc gạo mới vụ Đông Xuân đã được thu hoạch sản lượng đạt cao đã được đưa ra thị trường tiêu thụ. Cộng thêm giá vật tư nông nghiệp tiếp tục ổn định  nên giá thóc, gạo các loại biến động giảm./.

Trần Thị Thu Hiền, Phòng TK Thương mại
Nguồn: ctk.bacninh.gov.vn

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 2761

Đã truy cập : 43570330