CSGTD tháng 12 năm 2019

31/12/2019 11:00 Số lượt xem: 66

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2019 tăng 1,59% so với tháng trước, đây là mức tăng cao nhất trong 12 tháng qua và trong 2 năm gần đây 2017 và 2018; tăng 4,62% so với tháng 12 và cũng là cùng kỳ năm trước; bình quân 12 tháng tăng 2,92% so với năm 2018. So với tháng trước, có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số tăng:

 Biểu CSGTD tháng 12 năm 2019

I. TỔNG QUAN GIÁ CẢ HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ TIÊU DÙNG THÁNG 12

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2019 tăng 1,59% so với tháng trước, đây là mức tăng cao nhất trong 12 tháng qua và trong 2 năm gần đây 2017 và 2018; tăng 4,62% so với tháng 12 và cũng là cùng kỳ năm trước; bình quân 12 tháng tăng 2,92% so với năm 2018. So với tháng trước, có 5/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có chỉ số tăng: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 4,61% (lương thực tăng 1,13% và thực phẩm tăng 4,62%), là nhân tố chủ yếu khiến CPI tăng cao; nguyên nhân do giá thực phẩm tươi sống tăng mạnh, nhất là thịt lợn bởi nguồn cung giảm mạnh sau dịch tả lợn Châu Phi. May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,37%. Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,08%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%. Giao thông tăng 0,48% do ảnh hưởng chung từ 2 đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu diezen 0,05S vào 30/11/2018 và 16/12/2019 (tác động nhóm này khiến CPI tăng 0,04%). Có 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Mười Hai giảm so với tháng trước: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%. Văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,03%; Hàng hóa khác giảm nhẹ ở mức 0,01%. Còn lại các nhóm Thuốc và dịch vụ y tế, Bưu chính viễn thông và Giáo dục giá không đổi so với tháng trước.

Tính chung quý 4 năm 2019, CPI tăng 2,59% so với quý trước và tăng 3,43% so với quý 4 năm 2018. Các nhóm tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 8,12%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,83%; may mặc, mũ nón, giầy giép giảm 0,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,42%; giao thông giảm 0,24%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,18%; Giáo dục giảm 0,05%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,02%. Có 2 nhóm có chỉ số giá giảm là: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,94%; nhà ở, điện nước và chất đốt giảm 1,14%.

Một số nguyên nhân tác động đến CPI tháng 12  năm 2019:

  1. Chỉ số giá lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình đồng loạt tăng giá, trong đó nhóm thực phẩm tiếp tục tăng cao, nhất là giá thịt lợn, bình quân giá thịt lợn tăng 13,66% so với tháng trước, sản phẩm thịt gia súc tươi sống đóp góp tăng CPI 0,32%, trong đó thịt lợn đóng góp tăng 0,29%.
  2. Chỉ số nhóm dịch vụ điện sinh hoạt tăng 5,11%, nguyên nhân do cuối năm nhu cầu cao về hoàn thiện công trình nên giá tiền công thợ tăng.
  3. Điều chỉnh tăng giá xăng, dầu diezen vào ngày 30/11/2019 và giảm giá xăng, tăng giá dầu vào ngày 16/12/2019; tính chung làm giá xăng, dầu tăng trong tháng 1,29%, tác động đến chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,48% (đóng góp tăng CPI chung 0,01%).

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, còn có một số nguyên nhân chính kiềm chế CPI tháng 12:

  1. Giá sắt thép giảm do nguyên liệu thô nhập từ Trung Quốc giảm mạnh tác động đến nhóm Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng chậm  lại (+0,4%).
  2. Đồ uống và thuốc lá giảm 0,08% do giá nước khoáng và nước có ga giảm 0,73% bởi mùa đông nhu cầu tiêu dùng sản phẩm loại này chậm; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,03% do giá hoa tươi giảm 5,43%; hàng hóa khác giảm do giá đồ trang sức giảm 1,01%.

II. XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH TRONG THÁNG 12

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+2,92%)

Chỉ số giá lương thực tăng1,13% so với tháng trước, mặc dù sản lượng thu hoạch đạt cao nhưng nhu cầu tiêu dùng nhiều cho những tháng cuối năm cộng thêm thị trường xuất khẩu gạo ổn định hơn. Trong đó, giá gạo tăng1,53%, với gạo tẻ thường tăng 1,84%; gạo tẻ ngon tăng 1,05%; gạo nếp tăng 0,81%.

Chỉ số giá thực phẩm tăng 4,62%, trong đó thịt gia súc tiếp tục tăng 11,74% với giá mặt hàng thịt lợn +13,66%. Mặt hàng này có xu hướng tăng dần từ tháng 6, tăng mạnh nhất từ cuối tháng 10 đến nay, mặc dù Bộ Công Thương đã triển khai đồng loạt các giải pháp nhằm bình ổn thị trường thực phẩm nói chung và mặt hàng thịt lợn nói riêng. Nguyên nhân do ảnh hưởng của Dịch tả lợn Châu phi lây nhiễm vào Việt Nam từ đầu năm 2019 và đến cuối tháng 6 đã lan rộng, bùng phát trên phạm vi toàn quốc, tỉnh Bắc Ninh thuộc những tỉnh số lượng lợn mắc bệnh và tiêu hủy lớn cùng với việc không thể tái đàn ở các vùng dịch trong những tháng tiếp theo đã tác động lớn đến nguồn cung thịt lợn cho thị trường trong tỉnh cũng như cả nước (đặc biệt cho giai đoạn từ cuối tháng 9 đến nay). Cộng thêm, trong bối cảnh dịch bệnh lan rộng, nguồn cung giống cũng giảm nên việc chăn nuôi lợn đòi hỏi chi phí rất cao cho cả giống, các biện pháp phòng dịch cho chuồng trại, chi phí kiểm dịch thú y... cũng làm gia tăng chi phí sản xuất, kinh doanh thịt lợn, thêm vào nữa là nhu cầu tiêu dùng dịp cuối năm tăng trong khi đó một bộ phận người chăn nuôi và nhà sản xuất giữ hàng lại chưa bán chờ giá tăng cao hơn.

- Ăn uống ngoài gia đình tăng 6,35% do giá nguyên thực liệu tăng cao.

2. Đồ uống và thuốc lá (-0,08%)

Chỉ số nhóm này giảm do giá nhóm nước khoáng và nước có ga giảm 0,73% do nhu cầu tiêu dùng hạn chế trong mùa lạnh.

3. May mặc, mũ nón, giày dép (+0,37%).

Chỉ số giá nhóm tăng 0,34% tác động chính bởi giá vải và quần áo may sẵn tăng 0,57% và 0,47%; chủ yếu tăng giá ở quần áo mùa đông.

4. Nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD (+0,08%)

Nhóm này biến động chủ yếu do:

Vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 0,68%, vào cuối năm do nhu cầu khẩn trương hoàn thiện các công trình nên giá công thợ dịch vụ sửa chữa nhà ở cũng như dịch vụ về điện sinh hoạt tăng tương ứng +0,14%, +5,11%.

Bên cạnh đó giá giá sắt, thép xây dựng các loại giảm; lượng điện tiêu thụ tiếp tục giảm kéo theo giá điện sinh hoạt giảm đã tác động làm cho nhóm này tăng chậm lại

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,09%)

Do giá một số thiết bị điện và đồ dùng trong nhà tăng giá

5. Giao thông (+0,48%)

Ảnh hưởng từ hai đợt điều chỉnh, tăng giá xăng, dầu diezen giảm giá dầu hỏa vào thời điểm ngày 30/11/2019 và giảm giá xăng tăng giá dầu vào thời điểm 16/12/2019 làm giá xăng, dầu tăng 1,29%, tác động đến chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,48%.

III. GIÁ VÀNG VÀ ĐÔ-LA MỸ

1. Chỉ số giá vàng (-0,94%)

So với tháng trước ảnh hưởng chung của giá vàng trong nước và thế giới, giá vàng giảm nhẹ ở mức 0,94%. Tuy nhiên, bình quân giá vàng bán ra trong tháng duy trì ở mức cao là 4.132.000đ/chỉ.

2. Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,09%)

Trong tháng giá đô la Mỹ giảm nhẹ, giảm 0,09% ; giá chỉ xoay quanh so với tháng trước. Bình quân trong tháng, đồng đô-la được bán ra ở mức 23.242đ/USD.

IV. TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CPI  CẢ NĂM 2019

CPI bình quân năm 2019 tăng 2,92% so với năm 2018 dưới mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ mức CPI bình quân năm 2019 trong mức từ 3,3%-3,5% đã đạt được nhiệm vụ thực hiện điều hành giá theo đúng mục tiêu đã đề ra.

CPI tháng 12 năm 2019 tăng 4,08% so với tháng 12 năm 2018, bình quân mỗi tháng tăng 0,34%. CPI bình quân năm 2018 biến động do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

1. Một số nguyên nhân làm tăng CPI trong năm 2019

(1) Phục vụ Tết Nguyên đán nhịp độ sản xuất, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và sức mua trên thị trường trong dịp Tết, lễ hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng cao, thị trường hàng hoá và dịch vụ khá sôi động, đa dạng về mẫu mã chủng loại, chất lượng.

(2) Nhóm lương thực tăng 1,98%, do thóc, gạo chi phối giữ giá ở mức cao. Mặc dù sản lượng thu hoạch các vụ liên tục đạt cao nhưng thị trường xuất khẩu gạo có chiều hướng thuận lợi hơn, được mở rộng và cơ bản đã chiếm lĩnh được một số thị trường trên thế giới, giá xuất ở mức cao (+1,98%).

(3) Giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng 9/19 lần điều chỉnh.

(4) Giá điện sinh hoạt điều chỉnh tăng từ ngày 20/3/2019 theo Quyết định số 648/QĐ-BCT của Bộ Công Thương làm giá nhà ở, điện nước, chấ đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,16%.

(5) Thực hiện Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2019, từ 01/7/2019 mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được tăng lên 1.490.00đ/tháng đối với cán bộ, công chức, tăng thêm gần 7,2% trợ cấp BHXH làm giá bình quân một số loại dịch vụ như sửa chữa đồ dùng gia đình, bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước, dịch vụ thuê người giúp việc gia đình năm  tăng cao so với năm 2017là tác động chính làm cho nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,18%.

(6) Áp dụng mức giá dịch vụ khám bệnh BHYT theo thông tư 13/2019/TT-BYT, theo đó điều chỉnh tăng mức giá dịch vụ khám bệnh BHYT đối với các hạng bệnh viện, giá dịch vụ y tế tăng 2,44%.

2. Các nguyên nhân tác động làm giảm, kiềm chế tốc độ tăng giá

Sự điều hành kiên quyết, linh hoạt của Chính phủ, các ngành, các cấp trong thực hiện các giải pháp quản lý giá, triệt để tiết kiệm và đẩy mạnh phát triển kinh tế. Các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường, đồng thời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Nhà nước tiếp tục sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu để điều chỉnh giá. Tác động của giá xăng dầu trên thế giới, trong nước Chính phú điều chỉnh giảm 12/19 lần điều chỉnh và giữ giá ổn định trong thời gian nhất định. Tính chung trong năm, nhóm giao thông giảm 4,98%. Đây là các mặt hàng cơ bản cấu thành chi phí đầu vào cho sản xuất kinh doanh (nhất là vận tải) nên khi giữ giá và giảm giá đã tác động tích cực đến giá thành sản phẩm, giá bán nhiều sản phẩm, hàng hoá./.

Trần Thị Thu Hiền, Phòng TK Thương mại
Nguồn: ctk.bacninh.gov.vn

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 4664

Đã truy cập : 43590035